HNI 13/2/2026
TRẢ LỜI CÂU ĐỐ BUỔI CHIỀU
Câu 1:
Công dụng của cây hoa trinh nữ:
+Theo y học cổ truyền
Theo Đông y, cây Trinh nữ có vị ngọt, hơi se, tính hơi hàn, có độc, có tác dụng an thần, làm dịu cơn đau, chống ho, long đờm, tiêu viêm, tiêu tích, thanh nhiệt, hạ sốt, lợi tiểu. Cây Trinh nữ có tác dụng:
Chữa suy nhược thần kinh, mất ngủ, viêm phế quản, viêm kết mạc cấp, viêm gan, viêm dạ dày - ruột, phong thấp tê bại, bệnh gút, sốt, cao huyết áp. Ngày 15 - 25g, sắc uống.
Dùng ngoài trị chấn thương, viêm mủ da. Lấy cây tươi, giã, đắp. Rễ và hạt chữa hen suyễn và gây nôn. Rễ còn chữa sốt rét, kinh nguyệt không đều.
+ Theo y học hiện đại
- Chữa lành vết thương
Rễ của cây Trinh nữ đã được nghiên cứu cho hoạt động chữa lành vết thương bằng cách kết hợp methanolic và chiết xuất nước tổng hợp ở nồng độ 0,5% (w/w), 1% (w/w) và 2% (w/w). Hoạt động chữa lành vết thương đã được nghiên cứu trong ba loại mô hình ở chuột và ước tính các thông số sinh hóa.
Điều trị vết thương bằng ointment chứa 2% (w/w) chiết xuất methanolic và 2% (w/w) chiết xuất nước tổng hợp đã cho thấy hoạt động làm lành vết thương đáng kể (P<0,001). Chiết xuất methanolic thể hiện hoạt động chữa lành vết thương tốt có lẽ là do thành phần phenol.
- Tái tạo thần kinh tọa
Một chiết xuất cây Trinh nữ được tiêm với liều 1,6 mg/100 g tiêm mỗi 4 ngày lên đến 120 ngày ở chuột bị tổn thương thực nghiệm ở dây thần kinh tọa, đã cho thấy kết quả cao hơn 30 - 40% trong quá trình tái tạo thần kinh tọa so với nhóm sử dụng hydrocortison.
- Hành động chống trầm cảm
Ở Mexico, chiết xuất nước từ lá khô cây Trinh nữ được sử dụng để giảm triệu chứng trầm cảm. Kết quả cho thấy clomipramine (1,25 mg/kg, tiêm phúc mô), desipramine (2,14 mg/kg, tiêm phúc mô), và lá cây Trinh nữ (6.0 mg/kg và 8.0 mg/kg, tiêm phúc mô) làm giảm sự bất động trong thử nghiệm bơi cưỡng bức và tăng tốc độ phản ứng nhận được trong thử nghiệm DRL-72. Những dữ liệu này cho thấy rằng cây Trinh nữ tạo ra tác dụng chống trầm cảm ở chuột.
Hành động chống co giật
Nước sắc từ lá cây Trinh nữ được tiêm phúc mô với liều 1000 - 4000 mg/kg bảo vệ chuột chống lại cơn co giật do pentylenetetrazole và strychnine gây ra. Cây trinh nữ không có tác dụng chống lại co giật do picrotoxin. Nó cũng đối kháng với N-methyl-D-aspartate. Những đặc tính này có thể giải thích việc sử dụng nó trong y học cổ truyền châu Phi.
- Tác dụng tăng đường huyết
Chiết xuất etanolic của lá cây Trinh nữ cho chuột uống với liều 250 mg/kg cho thấy tác dụng tăng đường huyết đáng kể.
- Tác dụng lợi tiểu
Nước sắc từ lá cây Trinh nữ với liều 200, 500, 1000 và 2000 mg/kg ở chuột và chó cho thấy hoạt tính lợi tiểu. Hoạt động ở chuột với liều 250 mg/kg được tìm thấy đạt 82% so với nhóm chuột được điều trị bằng thuốc lợi tiểu tiêu chuẩn (hydrochlorthiazide 2,5 mg/kg). Có sự giảm đáng kể (trên 50%) của sự bài tiết Na+ và Cl- mà không ảnh hưởng đến sự bài tiết K+. Nó có thể được kết hợp như một loại thuốc lợi tiểu có tác dụng vừa phải với bất kỳ thuốc lợi tiểu hiện đại nào gây ra mất K+.
- Hoạt tính kháng khuẩn
Hoạt tính kháng khuẩn của các chiết xuất từ toàn cây Trinh nữ lần lượt trong ether dầu hoả, chloroform, ethyl acetate, methanol và nước đã được nghiên cứu đối với các chủng vi khuẩn Gram dương và Gram âm khác nhau bằng cách sử dụng vùng ức chế.
Cả phương pháp khuếch tán trên giếng thạch và phương pháp khuếch tán đĩa thạch đều được sử dụng để đánh giá hiệu quả kháng khuẩn của chiết xuất cây Trinh nữ.
Câu 2:
Cảm nhận CHƯƠNG 35: TRUYỀN CẢM HỨNG NHƯNG KHÔNG ÁP ĐẶT
Sách trắng Sống đúng mục đích và sống có mục đích
Chương này chạm rất sâu vào ranh giới mong manh giữa yêu thương và kiểm soát. Tôi học được rằng truyền cảm hứng không phải là kéo người khác đi theo mình, mà là sống đủ thật để họ tự tìm con đường riêng. Ánh sáng đúng nghĩa là trao quyền, không chiếm chỗ. Khi ta khiêm tốn, nhất quán và tôn trọng khác biệt, cảm hứng sẽ lan tỏa tự nhiên — và mỗi người được trưởng thành theo nhịp của chính họ.
Đọc thêm
TRẢ LỜI CÂU ĐỐ BUỔI CHIỀU
Câu 1:
Công dụng của cây hoa trinh nữ:
+Theo y học cổ truyền
Theo Đông y, cây Trinh nữ có vị ngọt, hơi se, tính hơi hàn, có độc, có tác dụng an thần, làm dịu cơn đau, chống ho, long đờm, tiêu viêm, tiêu tích, thanh nhiệt, hạ sốt, lợi tiểu. Cây Trinh nữ có tác dụng:
Chữa suy nhược thần kinh, mất ngủ, viêm phế quản, viêm kết mạc cấp, viêm gan, viêm dạ dày - ruột, phong thấp tê bại, bệnh gút, sốt, cao huyết áp. Ngày 15 - 25g, sắc uống.
Dùng ngoài trị chấn thương, viêm mủ da. Lấy cây tươi, giã, đắp. Rễ và hạt chữa hen suyễn và gây nôn. Rễ còn chữa sốt rét, kinh nguyệt không đều.
+ Theo y học hiện đại
- Chữa lành vết thương
Rễ của cây Trinh nữ đã được nghiên cứu cho hoạt động chữa lành vết thương bằng cách kết hợp methanolic và chiết xuất nước tổng hợp ở nồng độ 0,5% (w/w), 1% (w/w) và 2% (w/w). Hoạt động chữa lành vết thương đã được nghiên cứu trong ba loại mô hình ở chuột và ước tính các thông số sinh hóa.
Điều trị vết thương bằng ointment chứa 2% (w/w) chiết xuất methanolic và 2% (w/w) chiết xuất nước tổng hợp đã cho thấy hoạt động làm lành vết thương đáng kể (P<0,001). Chiết xuất methanolic thể hiện hoạt động chữa lành vết thương tốt có lẽ là do thành phần phenol.
- Tái tạo thần kinh tọa
Một chiết xuất cây Trinh nữ được tiêm với liều 1,6 mg/100 g tiêm mỗi 4 ngày lên đến 120 ngày ở chuột bị tổn thương thực nghiệm ở dây thần kinh tọa, đã cho thấy kết quả cao hơn 30 - 40% trong quá trình tái tạo thần kinh tọa so với nhóm sử dụng hydrocortison.
- Hành động chống trầm cảm
Ở Mexico, chiết xuất nước từ lá khô cây Trinh nữ được sử dụng để giảm triệu chứng trầm cảm. Kết quả cho thấy clomipramine (1,25 mg/kg, tiêm phúc mô), desipramine (2,14 mg/kg, tiêm phúc mô), và lá cây Trinh nữ (6.0 mg/kg và 8.0 mg/kg, tiêm phúc mô) làm giảm sự bất động trong thử nghiệm bơi cưỡng bức và tăng tốc độ phản ứng nhận được trong thử nghiệm DRL-72. Những dữ liệu này cho thấy rằng cây Trinh nữ tạo ra tác dụng chống trầm cảm ở chuột.
Hành động chống co giật
Nước sắc từ lá cây Trinh nữ được tiêm phúc mô với liều 1000 - 4000 mg/kg bảo vệ chuột chống lại cơn co giật do pentylenetetrazole và strychnine gây ra. Cây trinh nữ không có tác dụng chống lại co giật do picrotoxin. Nó cũng đối kháng với N-methyl-D-aspartate. Những đặc tính này có thể giải thích việc sử dụng nó trong y học cổ truyền châu Phi.
- Tác dụng tăng đường huyết
Chiết xuất etanolic của lá cây Trinh nữ cho chuột uống với liều 250 mg/kg cho thấy tác dụng tăng đường huyết đáng kể.
- Tác dụng lợi tiểu
Nước sắc từ lá cây Trinh nữ với liều 200, 500, 1000 và 2000 mg/kg ở chuột và chó cho thấy hoạt tính lợi tiểu. Hoạt động ở chuột với liều 250 mg/kg được tìm thấy đạt 82% so với nhóm chuột được điều trị bằng thuốc lợi tiểu tiêu chuẩn (hydrochlorthiazide 2,5 mg/kg). Có sự giảm đáng kể (trên 50%) của sự bài tiết Na+ và Cl- mà không ảnh hưởng đến sự bài tiết K+. Nó có thể được kết hợp như một loại thuốc lợi tiểu có tác dụng vừa phải với bất kỳ thuốc lợi tiểu hiện đại nào gây ra mất K+.
- Hoạt tính kháng khuẩn
Hoạt tính kháng khuẩn của các chiết xuất từ toàn cây Trinh nữ lần lượt trong ether dầu hoả, chloroform, ethyl acetate, methanol và nước đã được nghiên cứu đối với các chủng vi khuẩn Gram dương và Gram âm khác nhau bằng cách sử dụng vùng ức chế.
Cả phương pháp khuếch tán trên giếng thạch và phương pháp khuếch tán đĩa thạch đều được sử dụng để đánh giá hiệu quả kháng khuẩn của chiết xuất cây Trinh nữ.
Câu 2:
Cảm nhận CHƯƠNG 35: TRUYỀN CẢM HỨNG NHƯNG KHÔNG ÁP ĐẶT
Sách trắng Sống đúng mục đích và sống có mục đích
Chương này chạm rất sâu vào ranh giới mong manh giữa yêu thương và kiểm soát. Tôi học được rằng truyền cảm hứng không phải là kéo người khác đi theo mình, mà là sống đủ thật để họ tự tìm con đường riêng. Ánh sáng đúng nghĩa là trao quyền, không chiếm chỗ. Khi ta khiêm tốn, nhất quán và tôn trọng khác biệt, cảm hứng sẽ lan tỏa tự nhiên — và mỗi người được trưởng thành theo nhịp của chính họ.
Đọc thêm
HNI 13/2/2026
TRẢ LỜI CÂU ĐỐ BUỔI CHIỀU
Câu 1:
Công dụng của cây hoa trinh nữ:
+Theo y học cổ truyền
Theo Đông y, cây Trinh nữ có vị ngọt, hơi se, tính hơi hàn, có độc, có tác dụng an thần, làm dịu cơn đau, chống ho, long đờm, tiêu viêm, tiêu tích, thanh nhiệt, hạ sốt, lợi tiểu. Cây Trinh nữ có tác dụng:
Chữa suy nhược thần kinh, mất ngủ, viêm phế quản, viêm kết mạc cấp, viêm gan, viêm dạ dày - ruột, phong thấp tê bại, bệnh gút, sốt, cao huyết áp. Ngày 15 - 25g, sắc uống.
Dùng ngoài trị chấn thương, viêm mủ da. Lấy cây tươi, giã, đắp. Rễ và hạt chữa hen suyễn và gây nôn. Rễ còn chữa sốt rét, kinh nguyệt không đều.
+ Theo y học hiện đại
- Chữa lành vết thương
Rễ của cây Trinh nữ đã được nghiên cứu cho hoạt động chữa lành vết thương bằng cách kết hợp methanolic và chiết xuất nước tổng hợp ở nồng độ 0,5% (w/w), 1% (w/w) và 2% (w/w). Hoạt động chữa lành vết thương đã được nghiên cứu trong ba loại mô hình ở chuột và ước tính các thông số sinh hóa.
Điều trị vết thương bằng ointment chứa 2% (w/w) chiết xuất methanolic và 2% (w/w) chiết xuất nước tổng hợp đã cho thấy hoạt động làm lành vết thương đáng kể (P<0,001). Chiết xuất methanolic thể hiện hoạt động chữa lành vết thương tốt có lẽ là do thành phần phenol.
- Tái tạo thần kinh tọa
Một chiết xuất cây Trinh nữ được tiêm với liều 1,6 mg/100 g tiêm mỗi 4 ngày lên đến 120 ngày ở chuột bị tổn thương thực nghiệm ở dây thần kinh tọa, đã cho thấy kết quả cao hơn 30 - 40% trong quá trình tái tạo thần kinh tọa so với nhóm sử dụng hydrocortison.
- Hành động chống trầm cảm
Ở Mexico, chiết xuất nước từ lá khô cây Trinh nữ được sử dụng để giảm triệu chứng trầm cảm. Kết quả cho thấy clomipramine (1,25 mg/kg, tiêm phúc mô), desipramine (2,14 mg/kg, tiêm phúc mô), và lá cây Trinh nữ (6.0 mg/kg và 8.0 mg/kg, tiêm phúc mô) làm giảm sự bất động trong thử nghiệm bơi cưỡng bức và tăng tốc độ phản ứng nhận được trong thử nghiệm DRL-72. Những dữ liệu này cho thấy rằng cây Trinh nữ tạo ra tác dụng chống trầm cảm ở chuột.
Hành động chống co giật
Nước sắc từ lá cây Trinh nữ được tiêm phúc mô với liều 1000 - 4000 mg/kg bảo vệ chuột chống lại cơn co giật do pentylenetetrazole và strychnine gây ra. Cây trinh nữ không có tác dụng chống lại co giật do picrotoxin. Nó cũng đối kháng với N-methyl-D-aspartate. Những đặc tính này có thể giải thích việc sử dụng nó trong y học cổ truyền châu Phi.
- Tác dụng tăng đường huyết
Chiết xuất etanolic của lá cây Trinh nữ cho chuột uống với liều 250 mg/kg cho thấy tác dụng tăng đường huyết đáng kể.
- Tác dụng lợi tiểu
Nước sắc từ lá cây Trinh nữ với liều 200, 500, 1000 và 2000 mg/kg ở chuột và chó cho thấy hoạt tính lợi tiểu. Hoạt động ở chuột với liều 250 mg/kg được tìm thấy đạt 82% so với nhóm chuột được điều trị bằng thuốc lợi tiểu tiêu chuẩn (hydrochlorthiazide 2,5 mg/kg). Có sự giảm đáng kể (trên 50%) của sự bài tiết Na+ và Cl- mà không ảnh hưởng đến sự bài tiết K+. Nó có thể được kết hợp như một loại thuốc lợi tiểu có tác dụng vừa phải với bất kỳ thuốc lợi tiểu hiện đại nào gây ra mất K+.
- Hoạt tính kháng khuẩn
Hoạt tính kháng khuẩn của các chiết xuất từ toàn cây Trinh nữ lần lượt trong ether dầu hoả, chloroform, ethyl acetate, methanol và nước đã được nghiên cứu đối với các chủng vi khuẩn Gram dương và Gram âm khác nhau bằng cách sử dụng vùng ức chế.
Cả phương pháp khuếch tán trên giếng thạch và phương pháp khuếch tán đĩa thạch đều được sử dụng để đánh giá hiệu quả kháng khuẩn của chiết xuất cây Trinh nữ.
Câu 2:
Cảm nhận CHƯƠNG 35: TRUYỀN CẢM HỨNG NHƯNG KHÔNG ÁP ĐẶT
Sách trắng Sống đúng mục đích và sống có mục đích
Chương này chạm rất sâu vào ranh giới mong manh giữa yêu thương và kiểm soát. Tôi học được rằng truyền cảm hứng không phải là kéo người khác đi theo mình, mà là sống đủ thật để họ tự tìm con đường riêng. Ánh sáng đúng nghĩa là trao quyền, không chiếm chỗ. Khi ta khiêm tốn, nhất quán và tôn trọng khác biệt, cảm hứng sẽ lan tỏa tự nhiên — và mỗi người được trưởng thành theo nhịp của chính họ.
Đọc thêm