Tham gia trả lời câu đố chiều 11/2
Câu 1:
Công dụng của cây ngũ trảo
+ Đặc điểm tự nhiên
Cây ngũ trảo ưa ẩm, dạng cây thân gỗ nhỏ, cao khoảng từ 3 đến 5m; cây thường mọc ở những vị trí đất ẩm. Do đặc điểm ưa ẩm, ưa sáng nên cây phát triển sinh trưởng mạnh vào mùa xuân và hè thời điểm ra hoa là lúc cây được hấp thụ ánh sáng nhiều. Cây Ngũ trảo có thân nhẵn hoặc có thể có ít lông, cành cây lúc còn non có hình vuông; thân cây hình xám nâu hoặc xám.

Lá Ngũ trảo có hình dạng rất đặc biệt, lá mọc đối dạng chân chim khi nhìn vào lá rất giống như 5 móng chim nên dựa vào đặc điểm này người ta gọi cây với tên là Ngũ trảo. Lá Ngũ trảo dài khoảng tầm 5 đến 8cm, mặt trên của lá không có lông, nhẵn; mặt dưới của lá có lông mịn có màu bạc hơn so với mặt trên. Lá ngũ trảo có đầu nhọn, phía mép đầu lá có răng cưa.

Hoa Ngũ trảo có màu trắng đến tím nhạt, hoa có kích thước nhỏ mọc ở đầu cành.

Quả Ngũ trảo dạng bế tư, bên trong quả sau khi chính sẽ thấy có 4 hạt, Ngũ trảo có quả dạng quả mọng nước, lúc sống còn xanh khi chính từ xanh chuyển sang màu đen hoặc vàng đen.

+ Phân bố, thu hái, chế biến
Ngũ trảo có nguồn gốc từ Trung Quốc, ngày nay được tìm thấy ở nhiều quốc gia như Ấn Độ, Malaysia, Campuchia, Lào và Việt Nam. Tại Việt Nam, Ngũ trảo có thể được trồng để làm cảnh hoặc làm thuốc, tuy nhiên Ngũ trảo phần lớn được tìm thấy mọc hoang tại một số tỉnh như Tiền Giang, Kiên Giang, Thái Bình, Bắc Ninh, Lạng Sơn…

Cây sinh trưởng tốt vào mùa xuân hè, hoa bắt đầu xuất hiện khoảng vào tháng 11, sau khi hoa nở là mùa quả từ tháng 5 đến tháng 7 năm sau. Ngũ trảo sau khi thu hoặc được đem đi sấy hoặc phơi khô để bảo quản.

Lá và rễ của Ngũ trảo được thu hoạch quanh năm.

+ Bộ phận sử dụng
Bộ phận sử dụng được là toàn cây trên mặt đất. sau khi thu hoạch về rửa sạch, có thể dùng dưới dạng tươi hoặc đem đi sấy phơi khô để bảo quản sử dụng dần dần.

Tùy bộ phận sử dụng còn có tên gọi khác nhau nếu như quả của Ngũ trảo được sử dụng là dược liệu người ta sẽ gọi với tên là Hoàng kinh tử.

+ Thành phần hoá học
Tùy vào bộ phận sử dụng mà Ngũ trảo có thành phần hóa học khác nhau:
Lá Ngũ trảo có chưa tinh dầu chiếm 0,05% đây cũng là nguyên nhân lá Ngũ trảo có mùi thơm.
Rễ Ngũ trảo có chứa chất tanin, nhựa, alkaloid.

Vỏ cây Ngũ trảo có chứa các chất sau: Delphilipin3- Coumaroyl- Sophorosid-5-Monoglucosid, cayratinin.

Công dụng

+ Theo y học cổ truyền
Theo y học cổ truyền vị thuốc từ Ngũ trảo có tính hàn, vị chua đắng.

Vì những đặc tính như trên Ngũ trảo được sử dụng để điều trị sốt, có khả năng lợi tiểu, giải độc cho cơ thể; giảm đau, giảm sưng, long đờm, tiêu thũng cũng là một trong những tác dụng của Ngũ trảo.

+ Chủ trị:
- Tác dụng giảm sưng viêm nên Ngũ trảo được sử dụng cho những người đang bị sưng tuyến vú.

- Đối với người cao tuổi trị đau nhức xương khớp, tay chân tê thấp, đau đầu.

- Hỗ trợ trong việc điều trị các bệnh nhiễm khuẩn đường tiểu, có máu lẫn trong nước tiểu.

- Điều trị các bệnh đường hô hấp: Viêm phế quản mạn tính, hen, ho cảm, viêm amidan.

+Theo y học hiện đại
- Giảm đau, chống viêm
Theo các nghiên cứu được báo cáo trên tạp chí Journal of Ethnopharmacology, chiết xuất lấy từ lá cây Ngũ trảo có tính chất tiêu viêm, giảm đau, chống oxy hóa.

- Hoạt tính kháng nấm
Hai loại nấm Trichophyton mentagrophytes và nấm Trichophyton mentagrophytes được chứng minh bị chiết xuất dạng ethanolic của lá Ngũ trảo làm giảm sự sinh trưởng.

Câu 2:
Cảm nhận CHƯƠNG 33: TIỀN LÀ CÔNG CỤ HAY ÔNG CHỦ?
Sách trắng Sống đúng mục đích và sống có mục đích
Chương 33 khiến tôi nhìn lại mối quan hệ của mình với tiền. Tiền không tốt cũng không xấu – nó chỉ khuếch đại trục sống của mỗi người. Khi mục đích dẫn đường, tiền trở thành phương tiện mở rộng giá trị và phụng sự cộng đồng. Khi tiền dẫn đường, con người đánh mất tự do nội tâm. Tôi cảm nhận đây là lời nhắc sâu sắc về thứ tự đúng của đời sống: mục đích trước, giá trị sau, tiền đến tự nhiên – và khi đó, giàu có mới thật sự có ý nghĩa.



Tham gia trả lời câu đố chiều 11/2 Câu 1: Công dụng của cây ngũ trảo + Đặc điểm tự nhiên Cây ngũ trảo ưa ẩm, dạng cây thân gỗ nhỏ, cao khoảng từ 3 đến 5m; cây thường mọc ở những vị trí đất ẩm. Do đặc điểm ưa ẩm, ưa sáng nên cây phát triển sinh trưởng mạnh vào mùa xuân và hè thời điểm ra hoa là lúc cây được hấp thụ ánh sáng nhiều. Cây Ngũ trảo có thân nhẵn hoặc có thể có ít lông, cành cây lúc còn non có hình vuông; thân cây hình xám nâu hoặc xám. Lá Ngũ trảo có hình dạng rất đặc biệt, lá mọc đối dạng chân chim khi nhìn vào lá rất giống như 5 móng chim nên dựa vào đặc điểm này người ta gọi cây với tên là Ngũ trảo. Lá Ngũ trảo dài khoảng tầm 5 đến 8cm, mặt trên của lá không có lông, nhẵn; mặt dưới của lá có lông mịn có màu bạc hơn so với mặt trên. Lá ngũ trảo có đầu nhọn, phía mép đầu lá có răng cưa. Hoa Ngũ trảo có màu trắng đến tím nhạt, hoa có kích thước nhỏ mọc ở đầu cành. Quả Ngũ trảo dạng bế tư, bên trong quả sau khi chính sẽ thấy có 4 hạt, Ngũ trảo có quả dạng quả mọng nước, lúc sống còn xanh khi chính từ xanh chuyển sang màu đen hoặc vàng đen. + Phân bố, thu hái, chế biến Ngũ trảo có nguồn gốc từ Trung Quốc, ngày nay được tìm thấy ở nhiều quốc gia như Ấn Độ, Malaysia, Campuchia, Lào và Việt Nam. Tại Việt Nam, Ngũ trảo có thể được trồng để làm cảnh hoặc làm thuốc, tuy nhiên Ngũ trảo phần lớn được tìm thấy mọc hoang tại một số tỉnh như Tiền Giang, Kiên Giang, Thái Bình, Bắc Ninh, Lạng Sơn… Cây sinh trưởng tốt vào mùa xuân hè, hoa bắt đầu xuất hiện khoảng vào tháng 11, sau khi hoa nở là mùa quả từ tháng 5 đến tháng 7 năm sau. Ngũ trảo sau khi thu hoặc được đem đi sấy hoặc phơi khô để bảo quản. Lá và rễ của Ngũ trảo được thu hoạch quanh năm. + Bộ phận sử dụng Bộ phận sử dụng được là toàn cây trên mặt đất. sau khi thu hoạch về rửa sạch, có thể dùng dưới dạng tươi hoặc đem đi sấy phơi khô để bảo quản sử dụng dần dần. Tùy bộ phận sử dụng còn có tên gọi khác nhau nếu như quả của Ngũ trảo được sử dụng là dược liệu người ta sẽ gọi với tên là Hoàng kinh tử. + Thành phần hoá học Tùy vào bộ phận sử dụng mà Ngũ trảo có thành phần hóa học khác nhau: Lá Ngũ trảo có chưa tinh dầu chiếm 0,05% đây cũng là nguyên nhân lá Ngũ trảo có mùi thơm. Rễ Ngũ trảo có chứa chất tanin, nhựa, alkaloid. Vỏ cây Ngũ trảo có chứa các chất sau: Delphilipin3- Coumaroyl- Sophorosid-5-Monoglucosid, cayratinin. Công dụng + Theo y học cổ truyền Theo y học cổ truyền vị thuốc từ Ngũ trảo có tính hàn, vị chua đắng. Vì những đặc tính như trên Ngũ trảo được sử dụng để điều trị sốt, có khả năng lợi tiểu, giải độc cho cơ thể; giảm đau, giảm sưng, long đờm, tiêu thũng cũng là một trong những tác dụng của Ngũ trảo. + Chủ trị: - Tác dụng giảm sưng viêm nên Ngũ trảo được sử dụng cho những người đang bị sưng tuyến vú. - Đối với người cao tuổi trị đau nhức xương khớp, tay chân tê thấp, đau đầu. - Hỗ trợ trong việc điều trị các bệnh nhiễm khuẩn đường tiểu, có máu lẫn trong nước tiểu. - Điều trị các bệnh đường hô hấp: Viêm phế quản mạn tính, hen, ho cảm, viêm amidan. +Theo y học hiện đại - Giảm đau, chống viêm Theo các nghiên cứu được báo cáo trên tạp chí Journal of Ethnopharmacology, chiết xuất lấy từ lá cây Ngũ trảo có tính chất tiêu viêm, giảm đau, chống oxy hóa. - Hoạt tính kháng nấm Hai loại nấm Trichophyton mentagrophytes và nấm Trichophyton mentagrophytes được chứng minh bị chiết xuất dạng ethanolic của lá Ngũ trảo làm giảm sự sinh trưởng. Câu 2: Cảm nhận CHƯƠNG 33: TIỀN LÀ CÔNG CỤ HAY ÔNG CHỦ? Sách trắng Sống đúng mục đích và sống có mục đích Chương 33 khiến tôi nhìn lại mối quan hệ của mình với tiền. Tiền không tốt cũng không xấu – nó chỉ khuếch đại trục sống của mỗi người. Khi mục đích dẫn đường, tiền trở thành phương tiện mở rộng giá trị và phụng sự cộng đồng. Khi tiền dẫn đường, con người đánh mất tự do nội tâm. Tôi cảm nhận đây là lời nhắc sâu sắc về thứ tự đúng của đời sống: mục đích trước, giá trị sau, tiền đến tự nhiên – và khi đó, giàu có mới thật sự có ý nghĩa.
Like
Love
Wow
Angry
11
12 Bình luận 0 Chia sẽ